Đặng Dung là con trai của danh tướng Đặng Tất, quê ở Thiên Lộc (nay thuộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Ông không chỉ là một tướng lĩnh kiên cường trong phong trào Hậu Trần chống quân Minh xâm lược mà còn được biết đến như một nhà thơ để lại tác phẩm nổi tiếng trong lịch sử văn học Việt Nam.
Năm 1409, sau khi cha bị Giản Định Đế giết oan do nghe lời gièm pha, Đặng Dung cùng các tướng lĩnh khác đã tôn Trần Quý Khoáng lên ngôi, tức Trùng Quang Đế, tiếp tục ngọn cờ kháng chiến chống quân Minh xâm lược ở vùng Nghệ An, Hóa Châu (đã có tiểu sử riêng về Trùng Quang Đế trên hệ thống này).
Dưới triều Trùng Quang Đế, Đặng Dung là một trong những tướng lĩnh trụ cột, nhiều lần đem quân giao chiến với quân Minh trong hoàn cảnh lực lượng ngày càng suy yếu, thiếu thốn. Có giai thoại kể lại việc ông từng đêm khuya đột nhập doanh trại toan bắt sống tướng Minh là Trương Phụ nhưng bất thành do trời tối không nhận rõ mặt.
Đặng Dung được biết đến rộng rãi qua bài thơ chữ Hán \"Cảm hoài\" (còn gọi là \"Thuật hoài\"), sáng tác trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến ngày càng bế tắc. Bài thơ bộc lộ nỗi u uất của một người mang chí lớn phò vua giúp nước nhưng vận thời chưa thuận, với câu thơ nổi tiếng \"Quốc thù vị báo đầu tiên bạch\" (thù nước chưa trả mà đầu đã bạc), thể hiện tâm sự bi tráng của một trang nam nhi hết lòng vì đại nghĩa giữa lúc thế cùng lực kiệt.
Cuộc kháng chiến của nhà Hậu Trần dưới thời Trùng Quang Đế cuối cùng không thể chống đỡ nổi sức mạnh áp đảo của quân Minh. Đến khoảng năm 1414, sau khi các lực lượng kháng chiến lần lượt tan rã, Đặng Dung bị quân Minh bắt được.
Về cái chết của Đặng Dung, các nguồn sử liệu không hoàn toàn thống nhất. Có ý kiến cho rằng trên đường bị áp giải về phương Bắc, ông đã gieo mình xuống sông tự vẫn để giữ khí tiết, không chịu khuất phục; cũng có những ghi chép khác về hoàn cảnh cái chết của ông. Dù chi tiết cụ thể còn chưa rõ ràng, việc ông không chịu để quân Minh áp giải đến cùng đã được hậu thế nhìn nhận như một biểu tượng của khí tiết bất khuất.
Đặng Dung được hậu thế tôn vinh không chỉ vì lòng trung nghĩa, ý chí kiên cường theo đuổi sự nghiệp phục quốc dở dang của cha, mà còn vì di sản thơ ca để lại, đặc biệt là bài \"Cảm hoài\", một trong những áng thơ bi tráng tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam.