Nguyễn Công Trứ (1778–1858) là danh sĩ, nhà quân sự và nhà kinh tế nổi tiếng thời Nguyễn, quê ở làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học, nhưng đường khoa cử của ông khá muộn màng. Mãi đến năm 1819, dưới triều vua Gia Long, ông mới đỗ Giải nguyên và bắt đầu bước vào con đường làm quan khi đã ngoài bốn mươi tuổi.
Trải qua các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Nguyễn Công Trứ lần lượt đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng ở cả văn lẫn võ, từng cầm quân tham gia dẹp một số cuộc nổi dậy ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ông nổi tiếng là một vị quan có tài năng thực sự, dám nghĩ dám làm, nhưng cũng vì tính cách thẳng thắn, cương trực mà nhiều lần bị triều đình giáng chức, có giai đoạn bị cách hết phẩm hàm, thậm chí theo một số ghi chép ông từng phải sung vào quân ngũ với thân phận binh lính bình thường. Dù vậy, nhờ tài năng và uy tín, ông vẫn nhiều lần được triều đình trọng dụng trở lại.
Công lao lớn nhất và được ghi nhận rõ ràng nhất của Nguyễn Công Trứ là sự nghiệp khẩn hoang, lập ấp. Với chức Doanh điền sứ, ông đứng ra tổ chức chiêu mộ dân nghèo không có ruộng đất, huy động nhân lực khai phá các vùng đất bồi ven biển, đắp đê ngăn mặn, phân chia ruộng đất cho dân định cư sản xuất theo một quy chế tổ chức chặt chẽ. Từ những nỗ lực này, hai vùng đất mới đã ra đời: huyện Tiền Hải (tỉnh Thái Bình, lập năm 1828) và huyện Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình, lập năm 1829), đến nay vẫn là những vùng đất trù phú, đông dân cư, và nhân dân hai địa phương này còn lập đền thờ, tôn ông làm thành hoàng để tưởng nhớ công lao khai khẩn.
Bên cạnh sự nghiệp làm quan, Nguyễn Công Trứ còn được biết đến rộng rãi như một nhà thơ lớn của văn học trung đại Việt Nam, đặc biệt thành công ở thể loại hát nói (ca trù) với phong cách phóng khoáng, ngang tàng, đậm cá tính riêng, tiêu biểu như tác phẩm được truyền tụng với tinh thần "ngất ngưởng" - sống ung dung tự tại, không câu nệ khuôn phép.
Cuộc đời và tính cách của Nguyễn Công Trứ cũng gắn với nhiều giai thoại dân gian đầy màu sắc, được truyền tụng qua nhiều đời; tuy phần cốt lõi về sự nghiệp hành chính, quân sự và khẩn hoang của ông được sử sách ghi chép khá đầy đủ và đáng tin cậy, nhưng nhiều câu chuyện thêu dệt về đời tư của ông mang tính giai thoại, huyền thoại nhiều hơn là sử liệu xác thực.
Nguyễn Công Trứ mất năm 1858, để lại di sản lớn cả về sự nghiệp kinh bang tế thế lẫn văn chương, được hậu thế ghi nhớ như một trong những nhân vật lịch sử độc đáo và có nhiều đóng góp thiết thực nhất của triều Nguyễn.