Hoàng Hoa Thám, quê gốc ở Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên nhưng gắn bó phần lớn cuộc đời với vùng rừng núi Yên Thế (nay thuộc tỉnh Bắc Giang), là lãnh tụ lừng danh của cuộc khởi nghĩa Yên Thế chống thực dân Pháp. Ông được nghĩa quân và nhân dân suy tôn danh xưng "Đề Thám", bắt nguồn từ chức "Đề đốc" mà nghĩa quân tự phong cho ông trong quá trình chỉ huy chiến đấu, và tên gọi này về sau trở nên phổ biến gần như ngang với tên thật của ông trong ký ức dân gian.
Từ những năm cuối thập niên 1880, Hoàng Hoa Thám tham gia các toán nghĩa quân chống Pháp hoạt động trong vùng Yên Thế, một địa bàn rừng núi hiểm trở thuộc trung du Bắc Kỳ, rất thuận lợi cho chiến tranh du kích. Sau khi các thủ lĩnh tiền nhiệm của phong trào lần lượt hy sinh hoặc bị bắt, ông dần trở thành người đứng đầu, quy tụ và tổ chức lại lực lượng nghĩa quân thành một hệ thống có kỷ luật, thông thạo địa hình và biết dựa vào dân để cầm cự lâu dài.
Điểm đặc biệt của khởi nghĩa Yên Thế dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám là cách kết hợp linh hoạt giữa đấu tranh vũ trang và những giai đoạn hòa hoãn, thương lượng tạm thời với chính quyền thực dân Pháp, tiêu biểu là các cuộc giảng hòa vào khoảng năm 1894 và năm 1897. Nhờ những khoảng thời gian đình chiến này, nghĩa quân có điều kiện củng cố lực lượng, ổn định đời sống nhân dân trong vùng kiểm soát và chuẩn bị cho những giai đoạn kháng chiến tiếp theo, thay vì bị tiêu diệt nhanh chóng như nhiều cuộc khởi nghĩa cùng thời.
Nhờ chiến lược đó, cuộc khởi nghĩa Yên Thế do ông lãnh đạo kéo dài liên tục gần ba thập kỷ, từ cuối những năm 1880 cho đến khi ông qua đời năm 1913, trở thành một trong những phong trào vũ trang chống Pháp bền bỉ nhất trong lịch sử Việt Nam cận đại. Trong những năm cuối, nghĩa quân Yên Thế còn có liên hệ với các phong trào yêu nước khác đang lên trong nước, trong đó có những nhân vật liên quan đến vụ Hà thành đầu độc năm 1908, khiến thực dân Pháp càng quyết tâm dồn lực tiêu diệt căn cứ Yên Thế.
Sau đợt càn quét quy mô lớn của quân Pháp từ khoảng năm 1909, lực lượng nghĩa quân suy yếu dần, Hoàng Hoa Thám phải rút vào hoạt động bí mật với một nhóm nhỏ thân tín. Ông qua đời năm 1913 trong hoàn cảnh bị ám sát, nhiều khả năng do bị chính những người trong hàng ngũ phản bội theo sự xúi giục hoặc mua chuộc của phía Pháp; tuy nhiên các chi tiết cụ thể về cái chết của ông cho đến nay vẫn còn một số dị bản khác nhau giữa các nguồn sử liệu, nên không thể khẳng định tuyệt đối một phiên bản duy nhất. Cái chết của ông đã chấm dứt gần ba mươi năm tồn tại của căn cứ khởi nghĩa Yên Thế.
Hoàng Hoa Thám được hậu thế tôn vinh là biểu tượng của tinh thần kháng chiến bền bỉ, kiên cường của nhân dân Việt Nam trước ách đô hộ thực dân, và tên ông đã được đặt cho nhiều con đường, trường học tại các đô thị lớn, trong đó có một tuyến phố quan trọng tại thủ đô Hà Nội.